Đây là đoạn hồi ký của
tôi trong những ngày Cộng sản chiếm miền Nam, và 2 lần vượt ngục tù cải tạo
trong 3 năm sống với chế độ Cộng sản. Hồi ký này tôi viết tại trại tỵ nạn Mã
Lai, Tiểu bang Kelantan, Tỉnh Kotabaru.
Mùa Thu, năm 1978.
Dĩ vãng
hiện lên đầu óc tôi như cơn ác mộng bi thương buồn thảm!
...Ngày
21-4-75, tôi được báo cho biết có cuộc họp báo nơi phòng Khánh Tiết (trong Dinh
Độc Lập). Nội dung cuộc họp báo tôi chưa đượcbiết, đó cũng là việc làm bảo mật
thường ngày của khối Cận Vệ chúng tôi.
Ngô Thị Hồng Lâm- Lẽ ra tôi không bỏ
thời giờ viết về một nhân vật không đáng được nói tới. Nhưng tôi không thể nín
lặng khi một tên tự xưng “Nhà Báo Việt Thường” được cài cắm đang hằng ngày gây
hại, nhằm đánh phá những anh em dám dấn thân đòi tự do, dân chủ cho Việt Nam.
Vậy, “Nhà Báo Việt Thường” là ai?
Việt Thường có phải là đã từng là nhà báo ở miền Bắc Việt Nam
trước năm 1975 hay không?
Vừa qua, tại diễn đàn an ninh khu vực
thường niên, Đối thoại Shangri-La tổ chức ở Singapore hôm 31 tháng 5, Thủ Tướng Lý Hiển
Long, trong bài phát biểu của mình, ngoài việc đề cập đến lịch sử hình thành của Hiệp Hội Các
Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) và nhấn mạnh
tôn chỉ ban đầu của ASEAN là nhằm thành lập “Liên Minh Quân Sự” để chống lại
xu thế lan rộng của Chủ Nghĩa Cộng Sản ở Đông Nam Á trong những năm đầu Chiến
tranh lạnh, Thủ Tướng Lý Hiển Long cũng đã phát biểu rằng Việt Nam từng “XÂM LƯỢC” Campuchia, khi đề
cập đến thời gian quân đội Việt Nam “CHIẾM ĐÓNG” đất nước Chùa Tháp này từ năm
1979, trong bối cảnh Việt Nam đang mưu tìm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để
trở thành ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, đã khiến
cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cũng như một bộ phận không nhỏ những kẻ cuồng
cộng trở nên điên tiết, trước phát biểu đó của Thủ tướng
Singapore và thật khôi hài là Bộ Ngoại Giao Việt Nam còn kêu gọi Thủ Tướng Lý Hiển
Long phải đưa ra lời xin lỗi, thậm chí còn kêu gọi người Việt tẩy chay không
đi du lịch Singapore…
Một chú bé mười lăm tuổi, khá kẻng trai, tay
đút túi quần đi trên hè phố, vừa đi vừa hát mải mê. Đôi mắt cậu bé mơ màng làm
sao… Nguyên nghĩ, anh nhớ lại hồi anh mười lăm tuổi, ngờ nghệch hơn và còn trẻ
hơn chú bé ấy nhiều. Mười lăm tuổi bây giờ, đã biết hát bài hát về tình yeu.
Mười lăm tuổi ngày xưa, anh đứng dưới gốc ổi, nước mắt chảy ròng ròng vì bị
tước đi một miếng bánh ngọt…
CHƯƠNG
7: THÀNH NỘI.PHẦN MỘT: VỌNG LÂU
TRÊN CỬA THÀNH.
Thật
là một điều không hợp lý chút nào sau khi rút những người lính TQLC trang bị hiện
đại ra khỏi những đám ruộng nước lầy lội thì lại đẩy họ vào chiến đấu ở một khu
thành lũy xây từ thế kỷ 18 (thật ra là xây vào đầu thế kỷ 19, đời vua Gia Long
-1802-1820 ngd), nhiều hồ ao chung quanh với tất cả những gì khó khăn.
Tháng 4
năm 1975-Saigon Một con
tàu ngơ ngác ra khơi Một thuyền
trưởng tuyệt vọng Gần 4
ngàn hành khách của định mệnh Cuộc hành
trình không bờ bến Vỏn vẹn 3
ngày hải hành trôi nổi Hai người
tự tử thủy táng Hai đứa
trẻ ra đời Con tàu
kéo Song An, cứu tinh số 1 Thương
thuyền nhân đạo Đan Mạch, cứu tinh số 2 Sau cùng,
tàu Trường Xuân không chìm được kéo về Hồng Kông với thi hài của người khách cuối
cùng: Đại tá Wong A Sáng, sư đoàn 5 bộ binh Câu chuyện
40 năm trước được kể lại vào dịp ghi dấu 40 năm sau (1975-2015 ).
Tôi đến ATêKa, an toàn khu (ATK) để làm báo Sự
Thật đầu 1949.
ATêKa, an toàn khu là gì? Là căn cứ địa đầu
não của Đảng cộng sản Đông Dương và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nằm ở
chân hai con đèo tên Re và So của dãy Núi Hồng chia đôi hai huyện Định Hoá tỉnh
Thái Nguyên và Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
Cùng thời gian bao vây Điện Biên Phủ, Trung
ương mở lớp tổng kết cải cách ruộng đất ở sáu xã thí điểm tại huyện Đại Từ sát
nách An toàn khu, do Hoàng Quốc Việt chỉ đạo. Sau tổng kết sẽ triển khai chính
thức đợt 1 cải cách ruộng đất. Tôi đã dự.
Từ Điện Biên Phủ, Thép Mới viết cho tôi: “Mày
ở đầu trận tuyến chống phong kiến, tao ở đầu trận tuyến chống đế quốc, cố lên
hả!”. Hảo hớn, phơi phới.
Thép Mới đón ở ga. Xích lô chở cái thùng gỗ thông đựng sách Tàu
ngất ngưởng và tôi. Thép Mới đạp xe bên cạnh. Lên gác gặp ngay tổng biên tập.
Câu đầu tiên Hoàng Tùng hỏi:
- Mao xếnh xáng thu về được hết âm binh chưa? Có trắng tay
chuyến này không?
Ở trong nước Mao Trạch Đông đang là “chàng cả lố”. Chế giễu ông
ta là bằng chứng của người Mác-xít, Lê-ni-nít. Tôi thì không chế, nhưng sau vụ
chống phái hữu, tôi chẳng còn mặn mà với ông.
Rồi chúng tôi thở phào. Cụ Hồ đã lên tiếng. Có
lẽ là tháng 4 hay 5 năm 1963. Bài báo của Cụ đăng trang nhất báo Nhân Dân. Ký
tên Nguyễn Thanh Long. Ở đúng chỗ sau này đăng bài Nguyễn Chí Thanh chất vấn
dân tộc “sao phải ăn bún?”
Nói rõ Đảng ta phải biết ơn ba đảng cộng sản
Pháp, Liên Xô và Trung Quốc. Vậy là Cụ công khai phản đối Mao. Đám xét lại rất
mừng. Cụ Hồ nhất đinh phải là thích cộng sản văn minh hơn rồi. Chúng tôi hy
vọng Cụ ngăn được Đảng ngả theo Bắc Kinh. Không tán thành Mao chống xét lại để
bảo vệ chủ nghĩa, Cụ đã nói có nên vì đuổi một con chuột (xét lại) mà đang tâm
ném vỡ một cái bình quý không?
Đi từ nửa đêm ở Chợ Đồn Con, Phú Bình, Thái
Nguyên, chỗ vợ con sơ tán, mờ sáng ngày 28 tháng 7 năm 1967, qua phà Đông Xuyên
sông Hồng, tôi đến ngay báo Nhân Dân. Rất sốt ruột. Muốn gặp Châu. Muốn xem anh
đã bình thường lại chưa. Mấy hôm trước tôi rủ anh xem “Chiến tranh và Hoà
bình”, phim Liên Xô chiếu nội bộ ở Viện bảo tàng cách mạng. Ghét Liên Xô, ghét
“hoà bình”, người xem chửi cả cụ Lev Tolstoi, “Sao cái bọn này chúng nó sợ
chiến tranh đến thế chứ nhỉ, lại đem chiến tranh ra doạ ta nữa”. Nhưng Châu rất
đăm chiêu, không để ý tới những cái đó. Lát sau thấy vẻ anh vẫn nghĩ ngợi, bồn
chồn, tôi hỏi có chuyện gì thì anh nói có chuyện hơi lôi thôi, anh vừa bị mất
mấy đoạn trích biên bản hội đàm mới đây của Đảng cộng sản Trung Quốc và Việt
Nam. Mất kèm cả cái quần lụa của vợ.
Xong hạn cải tạo lao động, tôi về lại Ban nông
nghiệp báo.
Dưới gốc đa, Phan Quang, mới lên trưởng ban
sau cuộc đánh phá xét lại và chuyến đi Bắc Kinh xức dầu thánh; Hữu Thọ hay
“lính dù Kong Le” (chỗ nào đảng uỷ cần đánh dẹp thì phái anh ta đến) một nhát nhảy
mấy bậc lên ghế phó trưởng ban dưới Phan Quang, phổ biến ba quyết định của Ban
biên tập và đảng uỷ về tôi:
Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi
chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi
viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần
trăm được kể lại bằng chữ. Tôi viết những điều mà những thằng lính chúng tôi đã
trực tiếp tham dự nhưng không ai viết lại, trong khi nhiều người đã viết về những
chuyện chiến trường thì hình như chẳng có ai dự.
Huế
đang là một thành phố chết và đang là một thành phố bị bỏ ngỏ. Cả thành phố chỉ
còn lại vài ba ngọn đèn đường, cái sáng cái tối, đạn pháo Việt Cộng nã đều vào
cầu Trường Tiền và khách sạn Hương Giang, đó đây người ta đang đạp xe ba bánh,
xe xích lô đi hôi của.
Ði
lối cầu mới thì được an toàn, nhưng tôi sẽ đi lối cầu Trường Tiền mặc dù cầu
này đang bị pháo. Một chút lãng mạn trong người tôi nổi dậy, chẳng gì cũng chỉ
còn là lần chót. Ngay đầu cầu, một chiếc M-48 nằm chình ình, máy vẫn còn nổ mà
không có người. Lên đến giữa cầu, tôi nói với mấy thằng lính đệ tử.
Lên
đến trên tàu, không khí quá nặng nề ngột ngạt. Không phải nặng nề ngột ngạt vì
số người trên tàu quá đông, mà vì cả tàu đang bị bao trùm bằng mùi giết chóc,
căng thẳng.
Huy
mập nhét vào tay tôi khẩu súng ngắn, dặn dò:
"Súng
tôi lên đạn sẵn, ông giữ cẩn thận."
"Còn
gì nữa để mà phải thủ súng lên đạn sẵn?"
"Thì
ông cứ giữ đề phòng. Biết đâu có lúc phải xài tới."
Chưa
kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.
Hai
người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa
bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí
súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:
"Ðụ
mẹ, có xuống không?"
"Tôi
lạy anh, anh cho tôi đi theo với."
"Ðụ
mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn."
"Tôi
lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này."
"Ðụ
mẹ, một."
"Tôi
lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết.
Tôi lạy anh, tôi lạy anh."
"Ðụ
mẹ, hai."
"Trời
đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh
mà."
"Ðụ
mẹ, ba."
Tiếng
ba vừa dứt, tiếng súng nổ.
Người
trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn
M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến
khác khiêng ném xuống biển.
Linh Mục Phê Rô Phan Văn Lợi – Đả Đảo Cộng Sản
-Toàn
thể dân Việt đang bước vào thời điểm tưởng niệm 50 năm biến cố Tết Mậu Thân
(1968-2018). Đây là sự kiện thuộc hạng đáng ghi nhớ nhất trong Việt sử vì nhiều
mối liên hệ: ý nghĩa thiêng liêng của ngày Tết dân tộc, cuộc tấn công của Cộng
sản VN bất chấp tuyên bố hưu chiến, sự thất bại thảm hại của cuộc tổng tấn công
về mặt quân sự và chính trị, tội ác đã gây ra cho chính Đồng bào Việt Nam, thái
độ cố chấp của Cộng sản không nhìn nhận sai phạm của họ, dù đã nửa thế kỷ.
Ðây là một cuốn sách thứ ba của tiến sĩ
Nguyễn Tiến Hưng, cuốn “Tâm tư Tổng Thống Thiệu.” Hai cuốn trước đó là “Hồ sơ
mật Dinh Ðộc Lập” và “Khi đồng minh tháo chạy.” Tất cả những tác phẩm của ông
đều rất đồ sộ với phần tổng hợp những chứng liệu đã được giải mật của Hoa Kỳ và
bộ sưu tập của riêng ông.
Từng là Tổng Trưởng Kế Hoạch và Cố Vấn
của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cho nên những điều mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng
viết ra trong tác phẩm của ông phải là những điều cần đọc và nên đọc. Ðiểm cần
nhấn mạnh ở đây rằng lần này, có phần tâm tư của Tổng Thống Thiệu, một cựu lãnh
đạo VNCH mà cho đến lúc qua đời, không có cuốn hồi ký nào hay để lại những bút
tích về một giai đoạn chiến tranh nghiêm trọng liên hệ đến sự mất còn của miền
Nam Việt Nam.
Đả Đảo Cộng Sản - Chiều ngày 4/1/2018, thầy
giáo Vũ Văn Hùng - một cựu TNLT đã bị bắt với cáo buộc “gây rối trật tự công cộng”
(điều 318 BLHS). Trước đó, một số nhà giáo đã tổ chức cuộc họp mặt kỷ niệm ngày
thành lập Hội Giáo Chức Chu Văn An. Thầy giáo Vũ Văn Hùng bị bắt trên đường,
khi vừa rời khỏi buổi họp mặt. Được biết, công an ra lệnh cho chủ nhà hàng đuổi
khách để phá đám cuộc gặp gỡ này.
Người đàn bà thầm nghĩ: “Tại sao mình đã yêu Nguyên đến thế?”…
Cô chăm chăm nhìn anh qua làn ánh sáng xanh tái của rạng đông.
Anh còn đang ngủ say, vừa hiền vừa xa lạ, như một hình nhân bằng sáp. Gương
mặt, gờ cong trên sống mũi, vành tai… Vẫn con người ấy, da thịt ấy, trước kia
anh là vầng hào quang ở trong cô. Giờ, không còn toả ra hơi ấm của tình yêu và
niềm vui sống.